Điểm chính
- Phục hồi cần mức lãi lớn hơn mức lỗ: giảm 25% cần +33%, giảm 50% cần +100%.
- Rủi ro mỗi lệnh quyết định một chuỗi thua bình thường có thể sâu đến mức nào.
- Phục hồi cũng tốn thời gian, và sự nóng vội trong lúc đó gây ra drawdown lớn hơn.
- Hãy viết trước các quy tắc drawdown phân tầng, với việc giảm khối lượng trước khi dừng hẳn.
Mất 50% tài khoản thì bạn phải lãi 100% mới quay về điểm xuất phát. Sự bất đối xứng này không phải do xui rủi mà là phép tính thuần túy, và đó là lý do giới chuyên nghiệp bàn về mức sụt giảm vốn (drawdown) trước khi bàn về lợi nhuận. Hiểu điều này sẽ thay đổi mức rủi ro bạn sẵn sàng chấp nhận cho bất kỳ lệnh nào.
Drawdown thực sự đo lường điều gì
Drawdown là mức giảm giá trị tài khoản từ đỉnh trước đó xuống đáy sau đó, tính theo phần trăm của đỉnh ấy. Nếu giá trị tài khoản (equity) tăng lên 10.000, trượt xuống 7.500 rồi hồi phục, thì drawdown là 25%. Nó vẫn được tính là drawdown cho đến khi lập đỉnh mới.
Cần phân biệt ba khái niệm liên quan. Drawdown hiện tại là vị trí của bạn bây giờ so với đỉnh gần nhất. Drawdown tối đa là mức sụt giảm tệ nhất trong cả giai đoạn, và là con số thường được nêu nhất trong các bản ghi hiệu suất. Thời gian drawdown là khoảng thời gian cần để leo trở lại, thường là phần mà nhà giao dịch thấy khó chịu đựng nhất.
Vì sao phục hồi cần tỷ lệ phần trăm lớn hơn mức lỗ
Mức lỗ theo phần trăm được tính trên số dư lớn, nhưng mức lãi cần để bù lại lại được tính trên số dư nhỏ hơn. Mức lãi cần thiết là 1 ÷ (1 − mức lỗ) − 1. Bắt đầu từ 10.000, lỗ 25% còn lại 7.500. Để trở về 10.000, bạn phải kiếm 2.500 trên nền 7.500, tức là +33,3%.
| Drawdown | Số dư còn lại từ 10.000 | Mức lãi cần để phục hồi |
|---|---|---|
| 10% | 9.000 | +11,1% |
| 20% | 8.000 | +25% |
| 30% | 7.000 | +42,9% |
| 40% | 6.000 | +66,7% |
| 50% | 5.000 | +100% |
| 60% | 4.000 | +150% |
| 75% | 2.500 | +300% |
| 90% | 1.000 | +900% |
Đường cong lúc đầu thoải rồi uốn mạnh lên cao. Bước từ 10% lên 20% làm mức lãi cần thiết tăng thêm khoảng 14 điểm phần trăm. Bước từ 50% lên 60% tăng thêm 50 điểm. Vượt quá khoảng 30%, việc phục hồi bắt đầu trở nên phi thực tế với đa số người, và đó là lý do thực tế khiến các giới hạn rủi ro được đặt thấp hơn hẳn vùng này.
Tính theo công thức 1 ÷ (1 − mức lỗ) − 1. Phép tính là chính xác, còn tài khoản chỉ mang tính minh họa.
Rủi ro mỗi lệnh định hình drawdown như thế nào
Drawdown không chỉ đến từ chiến lược tồi. Ngay cả phương pháp có lợi thế thực sự cũng sẽ có chuỗi thua, và quy mô mỗi khoản lỗ quyết định chuỗi đó cắt sâu đến đâu. Hãy xét mười lệnh thua liên tiếp, một chuỗi hiếm gặp nhưng hoàn toàn có thể xảy ra với phương pháp thắng bốn trong mười lệnh. Các khoản lỗ cộng dồn trên một số dư ngày càng thu hẹp.
| Rủi ro mỗi lệnh | Số dư sau 10 lệnh thua liên tiếp (bắt đầu từ 10.000) | Drawdown | Mức lãi cần để phục hồi |
|---|---|---|---|
| 1% | 9.044 | 9,6% | +10,6% |
| 2% | 8.171 | 18,3% | +22,4% |
| 5% | 5.987 | 40,1% | +67,0% |
| 10% | 3.487 | 65,1% | +186,8% |
Đây là các phép tính minh họa với mức rủi ro phần trăm cố định. Ở mức 1%, chuỗi thua chỉ là phiền toái. Ở 5% đó là khủng hoảng, còn ở 10% tài khoản gần như không thể dùng được. Với các sản phẩm có đòn bẩy, sự cám dỗ rủi ro nhiều hơn cho mỗi lệnh đã nằm sẵn trong sản phẩm, nên kỷ luật phải đến từ chính bạn.
Thời gian phục hồi: chi phí ẩn
Drawdown còn tốn thời gian. Giả sử một phương pháp trung bình lãi 2% mỗi tháng, một giả định khá hào phóng. Phục hồi drawdown 10% (cần +11,1%) mất khoảng 5 tháng. Phục hồi drawdown 25% (cần +33,3%) mất khoảng 14 đến 15 tháng. Trong thời gian đó bạn không kiếm được gì ròng, và áp lực chấp nhận rủi ro lớn hơn để gỡ nhanh là rất mạnh. Chính áp lực đó khiến drawdown 25% biến thành 40%.
Đặt quy tắc drawdown trước khi cần đến
Những quy tắc viết ra khi bình tĩnh dễ tuân thủ hơn các quyết định đưa ra sau một tuần tồi tệ. Cấu trúc dưới đây là ví dụ về chính sách phân tầng. Các tỷ lệ chỉ mang tính minh họa, và mỗi người nên chọn con số phù hợp với mức chịu đựng và mục đích tài khoản của mình.
Ví dụ về chính sách drawdown phân tầng
- Xác định đỉnh tham chiếu. Quyết định đỉnh là mức equity cao nhất mọi thời đại hay mức đầu tháng hiện tại. Hãy ghi ra giấy để không thể đổi định nghĩa giữa lúc đang sụt giảm.
- Đặt mức cảnh báo đầu tiên. Ví dụ, khi drawdown đạt 5%, giảm một nửa khối lượng vị thế và chỉ tiếp tục giao dịch những thiết lập rõ ràng nhất.Mẹo: Giảm khối lượng làm chậm đà trượt dốc và vẫn giúp bạn có thêm dữ liệu.
- Đặt mức tạm dừng. Ví dụ, ở mức 10%, ngừng giao dịch trong một khoảng thời gian cố định và xem lại nhật ký để tìm các lần vi phạm quy tắc, thay đổi chi phí hoặc sự chuyển dịch của điều kiện thị trường.
- Đặt giới hạn cứng. Ví dụ, ở mức 15 đến 20%, lùi về tài khoản demo hoặc khối lượng rất nhỏ cho đến khi bạn có thể giải thích bằng văn bản điều gì đã sai.
- Xác định đường quay lại. Chỉ quay lại khối lượng đầy đủ sau một số lượng lệnh nhất định tuân thủ kế hoạch, chứ không phải sau một lần thắng may mắn.
Câu hỏi thường gặp
Drawdown 20% có bình thường không?
Điều đó phụ thuộc vào phương pháp và mục đích tài khoản. Nhà đầu tư cổ phiếu dài hạn thường trải qua những đợt sụt giảm cỡ đó hoặc lớn hơn. Một nhà giao dịch ngắn hạn dùng đòn bẩy chỉ rủi ro một phần nhỏ của một phần trăm mỗi lệnh sẽ coi đó là dấu hiệu có điều gì không ổn.
Drawdown nhỏ hơn có luôn nghĩa là chiến lược tốt hơn không?
Không phải tự thân. Một phương pháp có thể có drawdown nhỏ vì nó kiếm được rất ít, hoặc vì nó che giấu rủi ro như một khoảng trống giá lớn thỉnh thoảng xảy ra. Hãy so sánh drawdown với lợi nhuận và với cách các khoản lỗ được phân bổ.
Drawdown tối đa trong bản ghi hiệu suất có dự báo được tương lai không?
Không. Mức sụt giảm tệ nhất cho đến nay chỉ là mức tệ nhất đã quan sát được. Một bản ghi dài hơn hoặc một thị trường khác có thể tạo ra mức sâu hơn, nên nhiều người trong nghề giả định drawdown tối đa kế tiếp sẽ vượt mức trước.
Làm sao đo drawdown trên tài khoản của chính tôi?
Hãy theo dõi liên tục equity, ghi lại giá trị cao nhất đạt được và tính phần trăm giảm so với đó sau mỗi lệnh hoặc mỗi ngày. Hầu hết các nền tảng và bảng tính đều làm được bằng một công thức đơn giản.